• Thiên thần TDDC Hàn Quốc xinh như mộng

    VĐV xứ Hàn xinh đẹp Son Yeon Jae khiến khán giả ấn tượng với bài biểu diễn cùng vòng và bóng vòng loại thứ nhất nội dung toàn năng môn thể dục nghệ thuật của nữ hôm 9 - 8.

  • Bí Quyết Chọn Giày Đi Êm Chân

    Chỉ cần thực hiện theo những mẹo sau khi chọn mua giày, bạn sẽ có những đôi giày phù hợp với đôi chân cũng như "gu" thời trang của mình.

  • Sửa tật nói ngọng cho bé

    Bé nói ngọng có thể do sự phát triển thể chất chưa toàn diện. Lên 2 tuổi, một số bé có thể nói rất nhiều từ, rõ nghĩa trong khi một số bé khác nói chậm hơn. Các bé trai cũng có xu hướng nói kém hơn các bé gái.

  • Chọn Giầy Mùa Đông Cho Trẻ

    So với người lớn, giầy trẻ em cần rất nhiều tiêu chí khi chọn lựa bởi chân bé khá yếu ớt và nhạy cảm, dễ bị kích ứng da...

  • Em mất trinh rồi, anh lấy không?

    Hủy hôn, đó là quyết định cuối cùng của Hà sau tất cả những gì đã xảy ra. Hà cho rằng, người cô yêu thật lòng không chân thành với cô...

  • 10 Tiếc Nuối Có Nhiều Trong Cuộc Đời

    Mọi người thường nói “sống để không hối tiếc”. Vì vậy bạn nên biết về những tiếc nuối có nhiều trong cuộc...

  • Mặt Trái Của Cuộc Sống!

    Cuộc sống là một chuỗi những mảnh ghép khác nhau… Có những mảnh ghép vừa vặn cho ta lựa chọn để làm thành một chỉnh thể hoàn hảo, nhưng cũng có những miếng ghép không vừa vặn mà dù có cố gắng đến mấy cũng chỉ làm cho nó trở nên lệch lạc, miễn cưỡng chỉ làm mất thời gian, chứ chẳng thu được kết quả như mong đợi.

  • Mẹo Khử Mùi Hôi Của Thịt

    Thịt không phải là loại thực phẩm nặng mùi, nhưng mùi của chúng lại bám rất dai vào các vật dụng nấu nướng, vào góc bếp, bám trên da tay...

  • Những Điều Ngộ Nhận Về Hôn Nhân

    Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân, là kết quả của tình yêu, nó sẽ mang lại hạnh phúc cho các cặp vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế không ít người có những quan điểm ngộ nhận về hôn nhân....

  • Học Cách Mỉm Cười Với Cuộc Sống!

    Cuộc sống này đôi khi có những nỗi đau chẳng thể gọi thành tên, có những điều mà lý trí chẳng giải thích nổi và trái tim thì cứ tự ý quyết định...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Ích mẫu - Cây thuốc trị bách bệnh cho phụ nữ

Hẳn bạn đã một đôi lần sử dụng hoặc nghe nhắc đến những lợi ích vô tận của loại thảo dược tự nhiên cung cấp nhiều giá trị dược liệu quý giá cho sức khỏe phái yếu chúng mình?

Từ lâu, ích mẫu đã nổi tiếng trên toàn thế giới và được biết đến như một loại dược thảo trị bách bệnh cho phụ nữ trong quá trình chữa bệnh của mình.

1. Ích mẫu rất hữu ích để điều trị nhiều bệnh tật cho các thành viên gia đình bạn. Do cùng họ bạc hà, ích mẫu có chứa nhiều alkaloid và leonurine được sử dụng như một chất bổ tim, giúp hưng phấn thần kinh và là thuốc điều kinh nguyệt tự nhiên.


Nó cũng được coi là liều thuốc giãn mạch, giữ trọng trách thư giãn các cơ bắp, ngăn chặn huyết áp cao.

2. Ích mẫu là một liều thuốc thiết yếu trong việc phòng chống nhiễm trùng tử cung, giải tỏa căng thẳng, ngăn ngừa xuất huyết và các biến chứng trong các giai đoạn quan trọng của thai kỳ. Nó thúc đẩy thư giãn cơ thể trong toàn bộ thời gian mang thai.


Nguyên nhân là ích mẫu có chứa iridoid, glycosides, terpenoids, flavonoids, tannin, tinh dầu dễ bay hơi và chứa nhiều vitamin A  nên sẽ tạo ra các hiệu ứng tuyệt vời, cải thiện sức khoẻ cho các bà mẹ.

4. Trong thời cổ đại ở Trung Quốc, ích mẫu được sử dụng như một liệu pháp y học cổ truyền nhằm giảm đau bao tử, ngăn ngừa các vấn đề mãn kinh, giảm chuột rút và chứng mất ngủ. Nó là liều thuốc tốt nhất giảm kích thích thần kinh và thúc đẩy toàn bộ hệ thống thần kinh.


5. Tác dụng kỳ diệu khác của ích mẫu còn chữa bệnh hữu hiệu cho những người bị bệnh tim. Chẳng hạn như nếu các phụ nữ bị chứng cuồng loạn, nhịp tim nhanh và hồi hộp thì nên dùng ích mẫu vì chúng giúp thư giãn cảm xúc và làm giảm khả năng xảy ra ngất xỉu.


6. Ngoài ra, ích mẫu là một liều thuốc bổ tốt cho bệnh cột sống, đau dây thần kinh và phục hồi từ cơn sốt nhanh chóng. Nó cũng rất tốt để điều trị cho các dị tật của tim, chữa vết thương, ho.

7. Ích mẫu đã được chứng minh và thử nghiệm trong việc chữa trị các điều kiện khác nhau có liên quan đến sinh nở. Nó thúc đẩy dòng chảy tự nhiên của sữa mẹ, tăng sản sinh sữa mẹ sau khi sinh.


Uống trà ích mẫu còn giúp giảm nguy cơ trầm cảm sau khi sinh ở các phụ nữ. Nó giống như một chất bổ cardio được chứng minh để ngăn chặn sự hình thành các cục máu đông, cải thiện lưu lượng máu, làm giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ và các bệnh khác.


8. Ích mẫu cũng hữu ích trong việc ngăn ngừa lượng đường trong máu thấp, các bệnh tuyến giáp, đau đầu và chóng mặt. Ngoài ra, nó đã được chứng minh là loại thảo dược để làm giảm những vấn đề về phổi, hen suyễn và viêm phế quản.
Thảo Nguyên (Theo promotevitality)

Củ nghệ: Loại thuốc kháng sinh chống viêm nhiễm

Ngoài được coi là một gia vị quyến rũ trong nhiều món ăn, nghệ còn được biết đến là một loại thuốc nhuộm và đặc biệt là 1 loại thuốc kháng sinh chống viêm nhiễm.

1. Nghệ là một trong những thành phần quan trọng mà các bà nội trợ thường cho nó vào trong nhiều món ăn ngon. Với thành phần curcumin, nghệ luôn làm cho món ăn có màu sắc bắt mắt vì màu vàng của nó. Ngoài ra, Curcumin cũng được cho là chất chống oxy hoá, chất kháng khuẩn và chống viêm.
 
2. Trong nhiều nghiên cứu, chất curcumin có tác dụng chống viêm nhiễm trong nghệ còn được so sánh với các loại thuốc chống viêm mạnh, kể cả thuốc theo toa và không kê toa.

Các nghiên cứu cho thấy chất kháng viêm curcumin có thể được sử dụng như một loại thuốc kháng sinh mà không tốn kém và lại giúp điều trị hiệu quả bệnh viêm ruột như Crohn và viêm đại tràng loét.

Trong các nghiên cứu khác, curcumin có trong nghệ còn được nhiều bác sĩ chỉ định điều trị cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và giảm sưng khớp.
 

3. Nghệ luôn luôn là một cây thuốc quan trọng của Trung Quốc và Ấn Độ bởi vì các thầy thuốc dân gian luôn xem nghệ là một loại thuốc hiệu quả do tính chất chống viêm của nó.

Vì thế, nghệ được sử dụng để điều trị nhiều loại bao gồm đầy hơi, vàng da, các vấn đề kinh nguyệt, đau răng, vết bầm tím, xuất huyết, đau ngực và đau bụng. Trong y học Trung Quốc, nghệ là một loại thuốc phổ biến được sử dụng như một chất bổ dạ dày và có tác dụng lọc máu.

4. Hiện nay, nghệ đang được nghiên cứu về khả năng ngăn chặn các khối u cho những bệnh nhân bị ung thư. Qua các nghiên cứu sơ bộ trong phòng thí nghiệm tại Đại học Texas thì nghệ có thể hữu ích trong việc phòng ngừa và ngăn chặn sự phát triển của một số bệnh ung thư tế bào bao gồm các khối u ác tính, u vú và ruột kết.

Những nghiên cứu mới tiến hành còn cho thấy rằng ngay cả khi ung thư vú đã được hình thành thì chất curcumin có trong nghệ vẫn có thể làm chậm lại sự lây lan của các tế bào ung thư vú tránh di căn đến phổi.
 
Ngoài ra, những nghiên cứu được trình bày tại hội nghị về bệnh bạch cầu ở trẻ em được tổ chức tại London còn chứng minh nếu trẻ em ăn nhiều các loại thực phẩm chế biến từ  nghệ có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu ở trẻ em.

5. Nhiều chiết xuất từ nghệ còn được báo cáo giúp cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe cho con người bao gồm việc mang đến làn da khỏe mạnh, gan và túi mật. Ngoài ra chúng còn hỗ trợ giảm đau và chống viêm, chống oxy hóa.

Lưu ý:

Cục Quản lý dược phẩm Mỹ (FDA) đã công nhận nghệ là một thực phẩm an toàn cho sức khỏe khi dùng liều không được vượt quá khuyến cáo. Như với bất kỳ các thực phẩm nào khác, bạn nên luôn luôn đọc và làm theo hướng dẫn trên nhãn khi sử dụng.
 
Nhiều bác sỹ hoặc thầy thuốc hành nghề y tế cho rằng chiết xuất từ nghệ có thể giúp nhiều bệnh nhân bị sỏi mật. Tuy nhiên, bạn vẫn nên dùng nghệ dưới sự giám sát của bác sĩ và không nên dùng nghệ cho phụ nữ có thai.

Ngoài ra, nghệ có tác dụng làm loãng máu, vì thế những người dùng thuốc chống đông máu không nên sử dụng nghệ.
Thảo Nguyên (Theo associatedcontent)

Thuốc trị ký sinh trùng đường ruột

Bài viết sẽ giiới thiệu một số nét cơ bản về thuốc trị các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây ra.

Bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng đường ruột có thể gặp ở tất cả các nước trên thế giới. Ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, vùng có điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn lạc hậu thì tỷ lệ mắc cao hơn. Xin giới thiệu một số nét cơ bản về thuốc trị các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây ra còn chiếm tỷ lệ cao ở nước ta.
Bệnh do amip
Bệnh gây ra các tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ abces ở những cơ quan khác nhau. Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực.

Bệnh lây qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống nhiễm kén amip. Kén amip tồn tại ở ngoại cảnh tương đối tốt, ở nhiệt độ 17 – 200C chúng tồn tại hàng tháng, tuy nhiên ở nhiệt độ 850C, chúng chết sau vài giây.

Biểu hiện giai đoạn cấp là đau bụng, đại tiện nhiều lần 5 – 15 lần/ ngày phân ít hoặc không có, nhiều nhầy mũi máu, đau quặn bụng, đau rát hậu môn, sốt nhẹ; biểu hiện giai đoạn muộn chủ yếu là các triệu chứng đau dọc khung đại tràng, rối loạn tiêu hóa với các đợt táo lỏng xen kẽ; kèm theo có các đợt bùng phát lan tỏa giống giai đoạn cấp. Điều trị hiện nay chủ yếu dùng nhóm imidzole.

Nhiễm giun

Giun kim: Là loại giun tròn Enterobius vermicularius dài 1 – 1,5cm, sống ở đoạn cuối hồi tràng và manh tràng; giun cái mang trứng và đẻ ở trực tràng.

Biểu hiện chủ yếu là trẻ em bị ngứa hậu môn làm mất ngủ, do gãi có thể gây ra các vết xước quanh hậu môn, trẻ gái có thể bị viêm âm hộ âm đạo Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun đũa: Bệnh do nhiễm loại Ascaris lumbricoides. Thời kỳ giun trưởng thành với các biểu hiện rối loạn tiêu hóa không đặc hiệu đau bụng, buồn nôn, nôn khan; ngoài ra có thể gây giun chui ống mật, viêm đường mật, viêm tụy cấp, tắc ruột... chẩn đoán bằng tìm trứng giun trong phân hoặc phát hiện bằng các phản ứng điện di miễn dịch huỳnh quang. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun móc: Giun trưởng thành dài 1 – 2cm sống ở tá tràng và hỗng tràng, chúng hút máu khoảng 0,2ml/ngày, sống trung bình 5 năm do đó gây ra tình trạng thiếu máu nhược sắc nặng. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun lươn: Là loại Strongyloides stercoralis, loại giun này nhỏ dài 2 – 3cm, sống ở đoạn đầu ruột non, ít gặp hơn giun đũa và giun móc; ký sinh nhiều năm trong cơ thể vật chủ. Ấu trùng theo phân ra ngoài và lây nhiễm cho con người qua da khi tắm nước bẩn hoặc đi chân đất trong bùn.

Thường không có triệu chứng đặc hiệu, chỉ có các biểu hiện đau thượng vị, rối loạn tiêu hóa, táo lỏng xen kẽ từng đợt. Cần chú ý khi có sự lan tỏa của ấu trùng vào trong mọi phủ tạng là biến chứng nặng, thường xảy ra ở người suy giảm miễn dịch và thường gây tử vong.

Chẩn đoán bằng tìm ấu trùng trong phân hoặc xét nghiệm dịch tá tràng và hỗng tràng. Điều trị đặc hiệu là dùng thibendazole, có thể điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun tóc: Do loại Trichiuris Trichiura dài 4 – 5cm sống ở đại tràng. Lây nhiễm do thức ăn, đồ uống sống, bẩn chứa trứng giun.

Thường không có triệu chứng, phát hiện tình cờ qua xét nghiệm phân. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.


Nhiễm sán

Sán sơ mít: Gồm Taenia saginata và Taenia solium, đây là loại giun dẹt có đốt, đường kính 2 – 3mm, sán trưởng thành sống ở ruột non, mỗi đốt chứa trứng ra ngoài được bò hoặc lợn ăn phát triển thành nang sán.

Người ăn thịt lợn hoặc bò này không được nấu chín sẽ mắc bệnh. Biểu hiện đau bụng mơ hồ, không đặc hiệu, chán ăn hoặc ăn không biết no. Trong sán bò có thể thấy các đốt sán trên giường hoặc quần áo bệnh nhân, còn sán lợn thì đốt sán chỉ theo phân. Điều trị bằng nicosamid hoặc praziquantel.

Sán máng: Còn gọi là bệnh Bilharzia do loài sán dẹt Schistosoma gây ra. Lây nhiễm bắt đầu từ ấu trùng sống trong nước ngọt xâm nhập vào da bệnh nhân, sau đó theo các tĩnh mạch và bạch mạch về gan, tại đây phát triển thành ấu trùng sán.

Nếu không được điều trị sẽ chuyển sang mạn tính với các biến chứng tại gan và khoảng cửa, gây tắc nghẽn xoang hang và cuối cùng là gây tăng áp lực cửa, nếu nặng sẽ dẫn đến các biến chứng của tăng áp lực cửa như cổ chướng, lách to, giãn tĩnh mạch thực quản; đặc biệt nếu đồng nhiễm viêm gan B sẽ làm tăng nguy cơ ưng thư gan. Điều trị bằng praziquantel, nếu không đáp ứng có thể dùng oxamniquin.

Sán lá gan lớn: Do nhiễm loài sán Fasciola hepatica. Biểu hiện lâm sàng chia làm 3 giai đoạn, biểu hiện cấp tính là giai đoạn ấu trùng vào gan, các triệu chứng sẽ là sốt, đau vùng gan, tăng bạch cầu ái toan, gan to, chức năng gan bị tổn thương; giai đoạn tiềm tàng biểu hiện với các triệu chứng rối loạn tiêu hóa mơ hồ, đây là lúc sán khư trú trong đường mật; giai đoạn tắc nghẽn là hậu quả của viêm và phì đại đường mật.


Nhiễm khuẩn lâu ngày có thể gây xơ gan mật. Điều trị đặc hiệu bằng bithionol.

Sán lá gan nhỏ: Con trưởng thành sống ở đường mật, đôi khi sống trong ống tụy. Trứng nở trong nước hoặc được ốc ăn vào sẽ nở thành ấu trùng, ấu trùng thâm nhập vào cá, đóng nang, người ăn phải loại cá này chưa nấu chín (chủ yếu do tập quán ăn gỏi cá) sẽ mắc bệnh.

Biểu hiện lâm sàng âm thầm và không đặc hiệu với sốt, đau bụng và tiêu chảy. Nếu để lâu dài không điều trị sẽ dẫn đến các biến chứng viêm đường mật, xơ quanh khoảng cửa, có thể xuất hiện ung thư biểu mô đường mật. Chẩn đoán bằng việc tìm trứng trong phân. Điều trị chủ yếu bằng praziquantel.
Theo KHĐS

Vị thuốc từ hoa

Các loại hoa quen thuộc xung quanh bạn có thể là những vị thuốc "kỳ diệu" để chữa bệnh

Hoa cúc

Có thể sử dụng với dạng nấu nước uống như nước giải khát hoặc sắc uống để chữa đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, đau mắt, cao huyết áp, sốt. Mỗi ngày có thể dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu uống, hoặc giã nát đắp mụn nhọt.

Hoa sứ

Có tác dụng hạ huyết áp, chữa ho, tiêu đờm, tiêu thũng, liều dùng 6-12g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc. Người ta còn dùng nước sắc hoa sứ chữa cảm sốt, kiết lị.

Hoa hồng

Có vị ngọt, tính ôn, có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, giải độc, dùng để chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, ho viêm họng, lở loét mồm, liều dùng 3-6g/ngày dưới dạng thuốc sắc. Tinh dầu hoa hồng pha nước tắm có tác dụng an thần.


Hoa nhài

Thường dùng ướp trà uống hoặc dùng 2-4g hoa khô sắc uống chữa kiết lị, chữa mất ngủ hoặc dùng để rửa mắt.


Hoa kim ngân

Thường được trồng làm cảnh hoặc hàng rào, mọc nhiều ở vùng núi miền Bắc và Tây Nguyên, có tác dụng tiêu độc, trị ghẻ lở, nhọt độc ngứa, dị ứng, thấp khớp, một số nghiên cứu chứng minh nước sắc hoa kim ngân có tác dụng kháng sinh đối với tụ cầu khuẩn, vi khuẩn thương hàn...


Hoa bưởi

Tinh dầu hoa bưởi có rất nhiều thành phần, có thể đến 41 thành phần. Người ta nhận thấy tinh dầu hoa bưởi có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm (phế cầu), tụ cầu vàng...

Hoa khế

Dùng chung với lá khế, cành non, nấu sôi dùng để xông hoặc tắm chữa lở loét, dị ứng.
Tuy nhiên, có những loại hoa có độc phải được bác sĩ chuyên khoa kê toa hoặc hướng dẫn sử dụng như hoa cà độc dược dùng để chữa ho hen, chống co thắt chữa các cơn đau dạ dày, nôn ói, có thể sắc uống, thuốc bột hoặc cuộn tròn thành điếu để hút; hoa sói dùng để ướp trà uống, cần lưu tâm về liều lượng, có thể gây độc.
Một vài loại hoa ít được biết đến, nhưng cũng là vị thuốc:
Hoa hòe

Vị đắng trong hoa hòe có từ 6-30% là rutin, một chất làm bền thành mạch, người ta thường sử dụng để điều trị trong cao huyết áp, ngăn ngừa tình trạng xuất huyết do vỡ mao mạch, điều trị ho ra máu, tiểu ra máu, chảy máu cam. Liều dùng 5-20g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc. Có thể sao khô để dành pha uống như nước trà.

Hoa dâm bụt

Dùng lá và hoa giã nhỏ trộn với muối đắp lên mụn nhọt sẽ giúp giảm đau và chóng vỡ mủ.


Hoa mào gà

Sắc uống mỗi ngày từ 8-16g, chữa đi tiêu ra máu, hoặc dùng 10g hoa sấy khô, tán nhỏ, chia nhiều lần uống trong ngày. Mỗi lần uống 1-2g chữa lị ra máu, tiêu ra máu, kinh nguyệt kéo dài.


Theo Hervietnam

Thư giãn cùng hoa

Bản thân loài hoa, bất cứ là hoa gì đều có khả năng tác động sâu sắc đến tâm trạng, sự khỏe khoắn về tinh thần và thể chất của mỗi chúng ta.

Theo nghiên cứu của Trường Đại học Rutgers tại New Brunswick, hoàn toàn có căn cứ khoa học để tin rằng những bông hoa xinh đẹp có khả năng tuyệt vời trong việc làm khuấy động niềm hạnh phúc và làm gia tăng cảm giác hài lòng, niềm vui trong cuộc sống, góp phần thúc đẩy cuộc sống của bạn theo một chiều hướng tốt đẹp.
 
Kết quả nghiên cứu cho biết, những người tham gia thử nghiệm được tiếp xúc với hoa ít cảm thấy bị chán nản, buồn phiền, tâm trạng ít lo lắng hơn và trạng thái tươi vui này kéo dài tới vài ngày sau đó. Trong khoảng thời gian này, họ cũng có những mối quan hệ mật thiết hơn với gia đình, người thân và bạn bè.
 
Bản thân loài hoa, bất cứ là hoa gì đều có khả năng tác động sâu sắc đến tâm trạng, sự khỏe khoắn về tinh thần và thể chất của mỗi chúng ta. Không gì khoan khoái, dễ chịu cho bằng việc ngắm một bình hoa với đủ màu sắc và ngửi được hương thơm dịu dàng của nó, vì thế hãy tận dụng ngay những bông hoa rực rỡ của mùa xuân để làm khỏe cho mình.
Màu vàng sôi nổi: Màu vàng và xanh lục sắc vàng có tác dụng như những tác nhân kích hoạt thị giác, tạo cảm giác hưng phấn, tươi vui và ấm áp dễ chịu. Khi được đặt cách khoảng với hoa hồng vàng, hoa chuông sẽ tạo nên những tiếng âm vang cho chủ đề này.
 
Màu trắng dịu dàng: Chẳng hạn như màu hoa tử đinh hương, tú cầu, tulip… có vẻ đẹp thanh khiết, trong sáng giúp xoa dịu những tâm hồn đang trong tâm trạng mệt mỏi, rối bời và đầy căng thẳng. Màu trắng tràn đầy niềm hy vọng và hứa hẹn, tựa như một khung vẽ căng sẵn đang chờ đón đôi bàn tay tài hoa của người họa sĩ, với sự khởi đầu hoàn toàn mới mẻ.
 
Màu xanh êm ả: Màu xanh và tím phơn phớt là những nhân tố hòa hợp, có thể kết hợp với những màu sắc đối chọi để mang lại cảm xúc thanh bình, yên ả. Tulip, tú cầu, lan dạ hương mang những sắc độ màu khác nhau của xanh - tím. Toàn bộ họ hoa này có thể giúp bạn giảm thèm ăn, hạ thân nhiệt và xoa dịu mạch đập.
 
Màu hồng rạng rỡ: Màu hồng được diễn tả ở đây là hoa hồng, ly ly với những cung bậc từ màu nhạt, êm ái đến mạnh mẽ, đậm đà. Hãy làm đầy lọ hoa với những màu sắc này và việc ngắm nhìn chúng sẽ giúp gia tăng cảm xúc về khứu giác của bạn. Màu hồng nhạt gợi lên sự ngây thơ và khỏe mạnh, trong khi màu hồng đậm và đỏ gợi lên cảm giác phấn khích, sức mạnh và cả sự vĩ đại.
Vậy, nếu bạn không đủ điều kiện để tự mua hoa tặng mình một tuần một lần, thì việc đặt một chậu hoa kiểng nhỏ trong phòng khách hoặc trong văn phòng cũng có tác dụng giúp bạn có được tâm trạng phấn chấn, yêu đời hơn.
 
Theo SKDS/Woman’s World

Giúp bạn dùng muối khoa học nhất

Chuyên gia dinh dưỡng Ekta Vora (Ấn Độ) chia sẻ để giúp bạn có thể cân đối lượng muối dùng phù hợp với sức khỏe của mình.

Một nhúm muối nhỏ cũng tạo nên sự khác biệt cho món ăn của bạn. Không chỉ làm tăng vị ngon của món ăn, đối với con người, muối (NaCl) giúp di chuyển nước từ bên trong tế bào ra ngoài. Nó còn duy trì cân bằng nội môi – cân bằng giữa chất dịch thông thường và chất điện phân của cơ thể. Tuy nhiên, dùng quá nhiều hoặc quá ít muối đều có thể có hại cho cơ thể. Sau đây là một số cách do chuyên gia dinh dưỡng Ekta Vora (Ấn Độ) chia sẻ để giúp bạn có thể cân đối lượng muối dùng phù hợp với sức khỏe của mình.
Quá nhiều muối:
Khi có nhiều natri trong máu hơn mức cần thiết, cơ thể sẽ cố gắng bài tiết chúng ra ngoài. Tuy nhiên, mọi cá nhân đều có ngưỡng bài tiết muối nhất định. Khi vượt quá mức cho phép, cơ thể sẽ cố gắng hấp thu nước nhiều hơn, gây phù hoặc sưng. Tình trạng này có thể dẫn tới lên máu, cao huyết áp, và nếu không được phát hiện sẽ gây suy thận.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Quá ít muối:
Sẽ không có nguy hiểm gì nếu bạn không có bệnh sẵn trong người. Tuy nhiên, lượng natri trong cơ thể thấp sẽ dẫn đến chứng mất nước, mệt mỏi, vọp bẻ (chuột rút) và yếu ớt. Tất cả các điều này đều ảnh hưởng đến tim của bạn.
Cách hạn chế:
Một gam muối thường (khoảng ¼ muỗng cà phê) chứa khoảng 373 mg natri. Do đó, những người bị lên máu, cao huyết áp hoặc bệnh thận cần phải cẩn trọng với lượng muối hấp thụ vào cơ thể. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh để đặt ra mức hạn chế natri: mức nhẹ (3-4 gam/ngày), mức vừa (1-3 gam/ngày), rất hạn chế (1 gam/ngày).
Thức ăn cần chú ý:
Các nguồn natri tự nhiên trong thực phẩm không cô đặc như natri có trong thức ăn chế biến sẵn, vì thế nếu bạn quan tâm sức khỏe, hãy loại bỏ các thức ăn chế biến sẵn khỏi danh sách mua sắm. Bên cạnh đó, kali cũng được coi là chất đối kháng của natri. Một chế độ ăn uống giàu kali bao gồm trái cây, rau cải, đậu và nước dừa có thể điều chỉnh lượng natri trong cơ thể. Bạn có thể theo dõi lượng muối gia vị thêm vào các món ăn nhưng lại thường thiếu để tâm đến các nguồn muối gián tiếp. Hãy chú ý các thực phẩm được bảo quản trong chai, hộp và đóng gói, chúng thường có hàm lượng đường, muối và chất béo nhiều hơn mức cần thiết.
Một số nguồn natri cần tránh:
Natri quan trọng nhưng bạn có thể tránh dùng một số hợp chất nhất định để có được sức khỏe tốt. Hãy để ý danh sách sau đây khi đi cửa hàng thực phẩm vào lần sau:
- Bột ngọt.
- Soda dùng trong chế biến thức ăn.
- Thuốc tiêu mặn, bột phì.
- Muối nitrite: được tìm thấy trong các món ngũ cốc chế biến nhanh, phó mát làm sẵn.
- Muối alginate: có trong sữa sô-cô-la và kem.
- Muối benzoate: chất bảo quản trong đồ gia vị và nước xốt rau trộn.
Nếu bạn bị bệnh cần phải hạn chế lượng muối hấp thụ, thì có thể dùng muối đen (muối khoáng) vì nó có hàm lượng natri thấp hơn muối trắng (muối ăn thường).
Theo Báo điện tử Cần Thơ

Khỏe đẹp với hoa sen

Sen là một loài hoa đẹp. chẳng những nổi trội về hương, sen còn có công dụng tăng cường sức khỏe và làm đẹp.

Dùng sen để làm đẹp
Tất cả các bộ phận của cây sen đều được sử dụng để làm đẹp. Chẳng hạn, cánh sen được dùng trong việc ngâm bồn (spa trị liệu) rất hiệu quả để loại bỏ tế bào chết, tái tạo da, giúp làm da tươi trẻ lại. Đặc biệt, tinh dầu của sen trắng còn dùng để dưỡng da và massage, giúp lưu thông khí huyết.
Ngó sen cũng có khả năng tương tự, giúp sản sinh ra các chất đề kháng, tái tạo sức sống cho các tế bào. Sử dụng ngó sen làm nước uống sẽ giải được độc tố, giúp làn da đẹp hơn, các vết nám, tàn nhang và sẹo sẽ mờ dần.
Hương sen nhẹ nhàng và thanh khiết, vì thế thường được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất nước hoa.
Tim sen có vị đắng, tính hàn, dùng để pha trà, chữa mất ngủ, giúp da hồng hào, láng mịn.
Lá sen có vị đắng, tính ôn, có tác dụng thăng dương, chỉ huyết. Dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Dịch chiết từ lá sen có thể điều trị hội chứng rối loạn lipid máu.
Lá sen tươi phơi khô, thái thật nhuyễn dùng để nấu cháo với đường cát trắng. Món cháo này có tác dụng thanh nhiệt, hạ huyết áp và giảm cholesterol. Đây là món ăn rất thích hợp khi thời tiết nắng nóng.
Lá sen còn có tác dụng giảm béo. Lựa lá sen (60g), hạt ý dĩ (10g), sơn tra tươi (10g), vỏ quất (còn gọi là trần bì 5g) đem nghiền chung thành bột, bỏ vào ấm, rót nước sôi vào hãm, ngày uống một thang thay trà trong 100 ngày để hành thủy, giảm béo.
Cách làm khác là dùng vỏ quất (10g), mạch nha (15g), lá sen thái sợi (15g), sơn tra (10g) cho nước vào sắc chung với mạch nha trong 30 phút, sau đó lọc lấy nước pha với đường trắng, uống nóng mỗi ngày một thang để bổ tỳ, tiêu ứ, giảm mỡ, giảm béo.
Củ sen chứa rất nhiều dinh dưỡng nhất là protein và vitamin C, giúp tuần hoàn máu. Củ sen nấu chín (hoặc ngâm giấm) có thể làm giảm nhiệt, giảm thâm tím, tăng cường chức năng tim mạch và dạ dày.
Ăn sen lợi cho sức khỏe
Sen là loài hoa giúp vừa làm đẹp vừa tăng cường sinh lực cho cơ thể
Các nguyên liệu của cây sen dễ chế biến thành những món ăn ngon, có lợi cho sức khỏe như món cơm gói lá sen các chất trong lá sen có thể làm giảm cholesterol một cách rõ rệt, điều trị hội chứng rối loạn lipid máu và giảm béo. Lá sen giúp huyết lưu thông, sức khỏe chóng hồi phục.
Món gỏi ngó sen giúp khử nhiệt nên ăn đều sẽ tăng cường được sức khỏe.
Món củ sen hầm thịt cũng rất có lợi cho sức khỏe vì trong củ sen chứa nhiều chất dinh dưỡng như các protein và vitamin C. Củ sen chưa nấu chín có thể làm giảm nhiệt bên trong mạch máu và làm giảm thâm tím.
Thực hiện như sau: củ sen nấu chín có thể giúp tăng cường chức năng tim và dạ dày, có tác dụng tốt cho giấc ngủ tốt. Củ sen gọt vỏ, cắt khúc ngâm trong nước có pha chanh để củ sen hết mùi bùn và không bị thâm. Hầm giò heo cho nhừ, tiếp tục cho củ sen vào hầm khoảng 10 phút, nêm nếm cho vừa ăn, cho thêm một ít đường cho dịu nước hầm. Dùng nóng.
Chè hạt sen là món ăn gần gũi nhất. Hạt sen là vị thuốc bổ dưỡng có tác dụng kích thích ăn ngon, hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, dưỡng thần, tăng khí huyết cả 12 kinh mạch, giúp ngủ ngon, chóng phục hồi sức khỏe.
Trà tâm sen có công dụng thanh tâm, hạ huyết áp, giữ cho tinh khí được bền chặt và cầm máu. Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, mất ngủ. Cách dùng đơn giản là lấy 3g tâm sen rửa sạch, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, tâm sen có tác dụng hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giãn cơ trơn thành mạch máu và giảm trở lực huyết quản, phòng chống rối loạn nhịp tim, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, chống oxy hóa. Nó cũng cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim nhờ khả năng làm giãn thành mạch máu, giảm lượng tiêu thụ oxy của cơ tim và cải thiện lưu lượng tuần hoàn động mạch vành.
Lưu ý là vì tâm sen tính lạnh nên những người tỳ vị hư yếu, hay rối loạn tiêu hóa và đi lỏng mạn tính không được dùng.
Theo Hoàng Nguyễn
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Mất ngủ dùng hoa thiên lý

Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc.

Đặc điểm của cây
Cũng như nhiều cây cỏ khác, hoa thiên lý còn gọi là dạ lý hương, dạ lài hương, Tonkin creeper hay Chinese violet… có tên khoa học Telosma cordata (Burm.f.) merr, thuộc họ thiên lý (Asclepiadoceae). Là loại cây có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á.
Thiên lý là loại cây nhỏ, thân dây mọc leo, chia làm nhiều nhánh. Lá đơn nguyên, mọc đối, gốc hình tim, thuôn, có màu xanh lục bóng. Ra hoa thành xim (chùm) dạng tán, ở nách lá màu vàng, xanh lục nhạt, cánh hoa hợp thành ống dài, trên chia thùy hẹp dài, quả hạt dài. Hoa thơm về đêm nên có tên dạ lý hương. Mùa hoa nở chủ yếu vào mùa hè nên trồng làm cảnh che bóng mát trong sân nhà và lấy hoa làm thực phẩm.
Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc. Thường dùng làm thức ăn mát, bổ, chữa mất ngủ, giải nhiệt đôc , trị đau măt do nhiêt va giun kim. Thông thường người ta vẫn dùng hoa thiên lý để nấu canh ăn, có công hiệu mát bổ, an thần, giúp dễ ngủ, ngon giấc, bớt mệt mỏi, chữa sốt nhẹ, lao lực…
Những món ăn - thuốc dùng hoa thiên lý:
Chữa mất ngủ: hoa thiên lý 30g, hoa nhài 10g, tâm sen 15g. Sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.
Để có giấc ngủ ngon: dùng hoa thiên lý nấu canh với thịt lợn nạc hoặc với cá diếc, ăn ngày một lần trong vài ngày liền.
Chữa mất ngủ thường xuyên: hoa thiên lý nấu canh cùng lá vông nem, mỗi vị chừng 30 - 50g, rửa sạch thái nhỏ nấu chung thành canh, nêm đủ mắm muối, bột nêm cần ăn trong 4 - 7 ngày.
Chữa giun kim: lấy lá hay hoa thiên lý chừng 40 - 50g nấu canh ăn hàng ngày, cần ăn từ 7 ngày trở lên sẽ khỏi.
Hoặc dùng hoa thiên lý 30g, rau sam 20g, lá đinh lăng 25g. Sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày, cần dùng trong 3 ngày liền.
 
Canh thiên lý thịt nạc
 
Chữa chứng lòi dom, sa dạ con: lấy 100g lá thiên lý non và lá bánh tẻ rửa sạch, giã nhỏ cho vào 5g muối ăn, thêm 30ml nước cất lọc qua gạc sạch. Rửa lòi dom hay tử cung sa bằng nước thuốc tím loãng 1%; sau lấy bông thấm sạch tẩm nước thiên lý đắp vào chỗ dom hay dạ con, băng giữ. Ngày 1 – 2 lần, cần làm như vậy trong 4 - 5 ngày sẽ thấy co dần lại.
Chữa đau mình, xương cốt: hàng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò ăn hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ hiệu nghiệm.
Chữa đinh nhọt: lấy lá cây thiên lý khoảng 30 - 50g giã nát đắp vào nơi mụn nhọt ngày 1 lần, vài ngày sẽ khỏi.
Chữa tiểu buốt, tiểu dắt, cặn trắng: lấy rễ cây thiên lý 10 - 20g, sắc lấy nước uống chia 2 - 3 lần/ngày, chỉ 5 - 7 ngày sẽ đỡ hẳn.
 
Theo BS. Hoàng Xuân Đại
SKDS

Cây mít: Vị thuốc an toàn cho trẻ nhỏ

Có thể dùng cây mít làm bài thuốc hay trị nhiều bệnh cho trẻ nhỏ rất an toàn như chữa tưa lưỡi, chữa tiểu cặn trắng, chữa hen suyễn...

Mít là loại cây to, cao khoảng 8-15m, có tên khoa học là artocarpus integrifolia linn, thuộc họ dâu tằm (moraceae). Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, tại các vùng đồng bằng và tới độ cao 1.000m, rất gần gũi với người dân nông thôn. Mít có nhiều loại như: mít mật, miest dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam). Ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận cây mít còn là vị thuốc hay.

Các bộ phận làm thuốc

Hầu như tất cả các bộ phận của cây mít đều được dùng làm thuốc. Lá mít được dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, tiêu chảy và trị cao huyết áp. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá mít chữa các bệnh ngoài da và rắn cắn. Gỗ mít mài lấy nước uống có tác dụng an thần, liều dùng 6 - 10g/ngày. Trong khi đó, rễ cây mít sắc uống có thể trị tiêu chảy.

Quả mít to, dài chừng 30 - 60cm, đường kính 18 - 30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa (gọi là nhút). Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi…

Hạt mít luộc, rang, nướng hay thổi với cơm ăn. Hạt mít có giá trị dinh dưỡng như các loại hạt và củ khác, được nhân dân dùng chống đói trong những ngày giáp hạt. Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng. Hạt mít có tác dụng bổ trung ích khí gây trung tiện, thông tiểu tiện.

Có tài liệu còn cho rằng trong hạt mít còn chứa một chất ức chế men tiêu hóa đường ruột nên khi ăn nhiều dễ bị đầy bụng.

Múi mít chín vàng óng, ăn ngon ngọt, đặc biệt có hương thơm rất đặc trưng, được coi là thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng long đờm. Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6 - 1,5% (tùy loại mít), glucid 11 - 14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như: sắt, canxi, phospho… Theo tài liệu của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), trong múi mít chứa nhiều chất đường, đạm, các loại vitamin A, B1, B2, C và nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

Món ăn bổ dưỡng từ mít

Mít lên men rượu: múi mít chín 1kg, đường trắng 300g, men rượu (bánh men thuốc Bắc) 2 bánh. Cách làm: lựa múi mít vừa chín tới, gỡ bỏ hạt, phần múi đem trộn với 150g đường. Men rượu đem tán nhỏ, rây mịn. Cho mít vào bình thủy tinh rộng miệng, cứ một lượt mít rắc một lượt men cho đến hết mít. Số men còn lại rắc trên cùng, đậy kín nắp. Khoảng 4 - 5 ngày sau, mít lên men rượu bốc mùi thơm. Lấy 2 lít nước lọc hòa với 150g đường còn lại đổ vào, đậy kín nắp để lên men tiếp. Khoảng 9 - 10 ngày sau, thấy nước lên men rượu trong bình lắng trong là được. Chắt nước ra, lọc qua phễu có lót bông cho trong, đóng vào chai, nút thật chặt (vì lượng đường trong rượu còn lại vẫn tiếp tục lên men, dễ làm bật nút). Rượu mít lên men có màu vàng nhạt, có gas và dậy mùi thơm của hương mít. Rượu mít khá bổ, uống lâu say vì mít có tính giải rượu, dùng khai vị trong bữa ăn như bia hay rượu vang.

Mít nấu đường: mít chín 30 múi to, đường trắng 300g, chanh tươi 1 quả. Chọn mít dai vừa chín, múi to thịt dày, loại bỏ hạt, thái miếng vuông. Cho đường vào xoong cùng với 300ml nước, đun sôi, cho mít vào đảo đều. Rút bớt lửa chỉ để sôi lăn tăn, khi mít chín trong, nước đường hơi sánh lại là được. Để mít nguội, đem ướp lạnh. Lúc ăn, lấy mít vào cốc, vắt chanh vào nước đường còn lại, khuấy đều, tưới lên mít, ăn mát lạnh, dùng tráng miệng sau bữa ăn, còn giúp giải rượu bia.

Món mít non xào thịt: quả mít non gọt vỏ gai, thái lát, đem xào với thịt lợn (heo) nạc, nêm thêm gia vị, dùng ăn với cơm. Món này, theo Đông y có tác dụng bổ tỳ, hòa can, tăng và thông sữa, thích hợp cho phụ nữ sau sinh bị ốm yếu, ăn kém, ít sữa.

Những cách chữa bệnh từ cây mít

Lá mít dày, hình bầu dục, dài 7 - 15cm. Thường được dùng làm thuốc bằng lá tươi cụ thể như:

Dùng làm thuốc lợi sữa: sản phụ sau khi sinh nếu ít sữa, dùng lá mít tươi (30 - 40g/ngày) nấu nước uống giúp sữa tiết ra hoặc tăng tiết sữa. Cũng có thể dùng cụm hoa đực (dân gian thường gọi là dái mít), hay quả non sắc uống để tăng tiết sữa.

Chữa tưa lưỡi trẻ em: phơi lá mít vàng cho thật khô rồi đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa lưỡi 2 - 3 lần/ngày, tối 1 lần.

Chữa trẻ tiểu cặn trắng: lấy 20 - 30g lá già của cây mít mật, thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống.

Chữa hen suyễn: lấy lá mít, lá mía, than tre, cả 3 thứ có lượng bằng nhau sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa mụn nhọt, lở loét: lấy lá mít tươi giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ làm giảm sưng đau. Hoặc dùng lá mít khô nấu cô đặc thành cao, bôi lên vết lở loét sẽ mau khỏi.

Vị thuốc từ nhựa mít: vỏ cây mít có nhiều nhựa, cũng thường được dùng làm thuốc chữa nhọt vỡ mủ. Hoặc có thể dùng nhựa mít trộn với giấm, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy.

Thuốc an thần, hạ áp (kể cả co quắp): gỗ mít tươi đem mài lên miếngđá nhám, hoặc chỗ nhám của trôn bát,cho thêm ít nước (nước sẽ vẩn đục dochất gỗ và nhựa mít), ngày uống từ 6 -10g, ngày uống 1 thang, chia 3 lần.

Làm an thần: dùng khoảng 20g gỗphơi khô (hay vỏ thân gỗ), chẻ nhỏ,sắc với 200ml nước còn 50ml, uống mộtlần trong ngày, chia 3 lần. Cần uống vàingày liền

Theo BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
SK&ĐS

Vị thuốc từ rau mồng tơi

Theo Đông y, mồng tơi có vị chua ngọt, không độc, tính lạnh có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, nhuận tràng... Dùng mồng tơi chữa táo bón, đái dắt, kiết lỵ, làm đẹp da... vô cùng hiệu quả.

Loại rau tốt cho người tiểu đường
Rau mồng tơi giúp thải chất béo nên rất tốt cho người có mỡ và đường máu cao.
Trị núm vú sưng
Dùng rau mồng tơi giã nát đắp chữa vú sưng, nứt, giải độc.
Trị táo bón
Ăn rau mồng tơi hàng ngày giúp nhuận tràng rất tốt. Nếu bị táo bón có thể dùng bài thuốc sau: Lấy 500g mồng tơi cho mắm muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông.
Trị đái dắt
Rau mồng tơi sắc nước uống trong ngày có thể trị được bệnh đái dắt.
Trị tiểu buốt
Hái lá mồng tơi từ sáng sớm lau sạch cho vào cối giã nát, vắt lấy nước cốt pha thêm một ít nước sôi để nguội cho vài hạt muối rồi uống. Bã dùng để đắp vào bụng dưới (chỗ bàng quang) chỉ sau vài lần là khỏi.
Tăng sữa cho sản phụ sau sinh
Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi có các vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt nên tốt cho thai phụ… Món ăn nấu từ mùng tơi với gà ác, đậu đen ninh nhừ ăn nóng sẽ giúp sản phụ nhiều sữa, mau hồi phục sức khỏe lại có làn da hồng hào, tóc đen mượt.
Làm đẹp da
Lá mồng tơi còn có tác dụng dưỡng da. Ăn rau mồng tơi giúp lưu thông khí huyết, nhuận tràng giúp da dẻ mịn màng, tươi trẻ. Hoặc để dưỡng da, làm mịn nếp nhăn ở mặt, chống thô ráp có thể lấy vài lá mồng tơi non giã lấy nước cốt, cho vài hạt muối, thoa đều lên mặt vài lần trước khi đi ngủ.
Trị vết thương, trị đau nhức xương khớp
Nước cốt từ rau mùng tơi có thể làm mau lành vết bỏng, hầm mùng tơi với chân giò thêm chút rượu để ăn hàng ngày sẽ giúp trị đau nhức xương khớp.
Chữa yếu sinh lý: Rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả.

Minh Trang
(Tổng hợp)

Bất ngờ với vị thuốc từ Sôcôla

Không những giàu calo và polyfenol (chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch), sôcôla còn có những ưu điểm khác là mang lại sự sảng khoái, dễ chịu và tăng cường trí nhớ.

Sôcôla được sử dụng như một phương thuốc từ thế kỷ 18 và được “kê đơn” ăn hàng ngày. Tuy nhiên, từ khoảng chục năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến những ưu điểm của sôcôla và họ chứng minh được rằng, sôcôla khá hiệu quả trong việc phòng bệnh tim mạch.
Theo nghiên cứu của Đức được tiến hành trong suốt 8 năm, với gần 20.000 người tham gia, nếu ăn một miếng sôcôla nhỏ (khoảng 7,4g) mỗi ngày thì nguy cơ tai biến mạch máu não sẽ giảm tới 48% và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cũng giảm 27%. Ngoài ra, sôcôla cũng giúp giảm nguy cơ bị huyết áp cao. Kết quả này cũng được phát hiện ở nhóm người Kuna (Panama), do họ thường xuyên uống cacao nên tỷ lệ tử vong vì các bệnh ung thư và tim mạch cũng giảm.
Sôcôla có hơn 800 thành phần hóa học nhưng chỉ cần vài chục trong số đó cũng đủ để khẳng định ưu điểm của nó, đặc biệt là chất polyfenol. Các nhà khoa học đã ra sức nghiên cứu những tác dụng tích cực của nó trong việc phòng chống bệnh tim mạch, ung thư cũng như các bệnh lý liên quan đến thoái hóa thần kinh và khẳng định, phân tử polyfenol có tác dụng chống ôxy hóa nên rất có lợi trong việc phòng chống xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, họ cũng khuyến cáo không nên dùng quá 200g mỗi ngày.
Nhóm nghiên cứu của Pháp cũng khẳng định, sôcôla là một trong những món ăn giàu chất polyfenol nhất, nhưng số lượng polyfenol sẽ khác nhau ở những loại sôcôla khác nhau: sôcôla đen nhiều polyfenol hơn sôcôla sữa. Đối với sôcôla trắng, tỷ lệ phân tử này gần như bằng không. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, những người thường xuyên ăn sôcôla ít bị suy nhược cơ thể, ít bị stress hơn so với những người thi thoảng mới ăn.
Theo Đức Ngọc
PNO/Le Figaro

Na(Mãng cầu) - vị thuốc hạ khí tiêu đờm

Quả na vị ngọt, chua, tính ấm; có tác dụng hạ khí tiêu đờm. Quả xanh làm săn da, tiêu sưng. Hạt na có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng...

Cây na tùy thuộc vào từng địa phương còn gọi là mãng cầu, mãng cầu ta, màng cầu dai, tên khoa học Annona squamosa L.
Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, lá, quả và hạt.
Đông y cho rằng quả na vị ngọt, chua, tính ấm; có tác dụng hạ khí tiêu đờm. Quả xanh làm săn da, tiêu sưng. Hạt na có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng. Lá cũng có tác dụng kháng sinh tiêu viêm, sát trùng. Rễ cầm ỉa chảy. Có công dụng chữa kiết lỵ, tiết tinh, đái tháo, bệnh tiêu khát. Quả xanh dùng chữa lỵ và tiêu chảy. Quả na điếc dùng trị mụn nhọt, đắp lên vú bị sưng. Hạt thường được dùng diệt côn trùng, trừ chấy rận. Lá na dùng trị sốt rét cơn lâu ngày, mụn nhọt sưng tấy, ghẻ. Rễ và vỏ cây dùng trị ỉa chảy và trục giun.
Để tham khảo và áp dụng, dưới đây là những gợi ý những phương thuốc trị liệu từ cây na.
Đi lỵ ra nước không dứt: 10 quả na ương (chín nửa chừng) lấy thịt ra, còn vỏ và hạt cho vào hai bát nước, sắc còn một bát, ăn thịt quả và uống nước sắc.
Nhọt ở vú: Quả na điếc mài với dấm bôi nhiều lần.
Trị mụn nhọt sưng tấy: Lá na, lá bồ công anh, cùng giã đắp.
Sốt rét cơn lâu ngày: Vò một nắm lá (20-30g) giã nhỏ, chế thêm nước sôi vào vắt lấy một bát nước cốt, lọc qua vải, phơi sương, sáng hôm sau thêm tí rượu quấy uống trước lúc lên cơn hai giờ. Mỗi ngày uống một lần, uống liền 5-7 ngày.
Trị giun đũa chòi lên ợ ra nước trong: Dùng một nắm rễ na mọc về hướng Đông, rửa sạch, sao qua, sắc uống thì giun ra.
Theo BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
SK&ĐS

Chữa mụn nhọt bằng thảo dược

Phối hợp sử dụng các nhóm thực phẩm hoặc thảo dược có tác dụng bổ can, thanh nhiệt giải độc, lương huyết, kháng viêm, tăng cường hành khí hoạt huyết có thể điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt

Với quan niệm đơn giản mụn nhọt là do nóng trong người sinh ra và là bệnh lành tính, nên phần lớn người bị mụn nhọt thường tự chữa trị. Việc tự
Sài đất.  
ý sử dụng các loại thuốc đôi khi không mang lại hiệu quả mà càng làm mụn nhọt bị nhiễm nặng hơn.
Không mấy người biết đến hậu quả của mụn, khi bị biến chứng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu, đe dọa tính mạng. Đối với phụ nữ, việc lo lắng thái quá khi bị mụn làm khí huyết uất kết, không thông, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt và làm mụn nổi nhiều hơn trong giai đoạn kinh nguyệt. Nếu gan không đảm bảo được vai trò thải độc và chuyển hóa tốt thì hiện tượng tích độc càng tăng. Do đó để điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt, cần phối hợp sử dụng các nhóm thực phẩm hoặc thảo dược có tác dụng bổ can, thanh nhiệt giải độc, lương huyết, kháng viêm và tăng cường hành khí hoạt huyết.
Thanh nhiệt giải độc, kháng viêm: Các loại thảo dược như bồ công anh, sài đất, kim ngân, liên kiều, bèo cái, thương nhĩ tử (ké đầu ngựa), cỏ mực, cam thảo đất là những vị thuốc chứa nhóm hoạt chất flavonoid có tác dụng chống viêm và có tính kháng sinh thực vật, dùng chữa mụn nhọt sưng đỏ gây đau nhức khó chịu, hoặc mụn ở giai đoạn mưng mủ và vỡ mủ.
- Cách dùng: Bồ công anh 15g, sài đất 10g, kim ngân hoa 5g, ké đầu ngựa 10g, cam thảo đất 2g, tất cả gộp lại sắc chung với 500ml nước, chia nhiều lần uống trong ngày hoặc bào chế ở dạng trà uống mỗi ngày.
Nếu mụn đang viêm và sưng tấy, dùng 100g sài đất tươi sắc với nước thêm ít đường chia hai lần uống trong ngày. Hoặc dùng 100g sài đất tươi giã nhỏ hòa với 200ml nước đun sôi để nguội, thêm ít muối lọc uống ngày hai lần.
- Bài thuốc sài đất, cỏ xước, ké đầu ngựa, cam thảo đất, mỗi vị 20g, sắc còn khoảng 200ml uống ngày 2-3 lần.
Nhuận gan mật: Các vị thuốc có tác dụng thông tiểu tiện, tăng cường hoạt động của các tế bào gan và gia tăng thải độc cho cơ thể, chữa mụn nhọt viêm nhiễm ngoài da. Sử dụng các loại trà actisô, trà nhân trần, trà nhuận gan hoặc các bài thuốc nhuận gan mật gồm nhân trần 12g, dành dành 12g, mã đề 8g, sắc uống ngày một lần có tác dụng tốt cho việc điều trị mụn.
Thanh nhiệt lương huyết (làm mát huyết): Các thảo dược hay được dùng như sinh địa, huyền sâm, cỏ mực, mạch môn, đơn bì, bạch thược có tác dụng làm mát huyết, nhuận huyết. Bài thuốc gồm cỏ mực 20g, sài đất 10g, hạ khô thảo 8g, mạch môn 10g, sinh địa 10g, sắc trong 600ml nước, đun cạn còn 300ml chia nhiều lần uống trong ngày.
Song song việc uống đôi khi cũng cần sử dụng một số thuốc để bôi hoặc đắp ngoài da nhưng phải tuân thủ yếu tố vệ sinh, vô trùng vì khi mụn nhọt đang giai đoạn có mủ nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ có thể bị bội nhiễm.
- Dùng một ít bột quế hòa trong vài giọt chanh tươi chấm vào chỗ mụn, ngày 2-3 lần.
- Để mụn nhọt dễ rút mủ, dùng lá dâm bụt giã đắp, rễ cây hoa phấn giã đắp, hoặc dùng bài thuốc gồm lá khoai lang non 40g, muối ăn 3g, đậu xanh 10g, tất cả giã nhuyễn, trộn đều và đắp lên mụn, để khoảng một giờ rồi rửa mặt sạch với nước ấm.
Đông y có nhiều bài thuốc chữa mụn nhọt được bào chế ở dạng thành phẩm, có thể tham khảo và sử dụng theo chỉ định của thầy thuốc. Thuốc đông y tuy lành tính nhưng cần chú ý để tránh mua nhầm các loại dược liệu giả trên thị trường có thể gây độc hại như sài đất giả, hồng hoa giả, kim ngân giả...
Theo DS. LÊ KIM
SK&ĐS

homepost2